CenIT-News Category Menu
Thông tin chỉ đạo, điều hành
Tổ chức hành chính
Môi trường
Đất đai Thông tin giá đất
An toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản
Tiếp nhận hồ sơ tự công bố sản phẩm
Công khai ngân sách
Quy hoạch - Kế hoạch
Thống kê chuyên ngành
ISO
Tiếp cận thông tin Phổ biến Giáo dục Pháp luật Danh mục hồ sơ Thủ tục hành chính Xử phạt Vi phạm hành chính Bản tin tài nguyên môi trường

Một số chỉ tiêu trong Chương trình phát triển đô thị tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045

13/02/2023 00:00      Lượt xem: 352   
Đọc tin

 

Thực trạng phát triển đô thị và hệ thống các đô thị trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa: Chương trình phát triển đô thị tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 4104/QĐ-UBND ngày 29/12/2016. Trên cơ sở đó, UBND các huyện, thị, xã, thành phố đã triển khai lập Chương trình phát triển đô thị của từng địa phương và đến nay, 08 huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh đã được UBND tỉnh phê duyệt Chương trình phát triển đô thị của từng địa phương. Ngoài ra, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình phát triển đô thị.

Qua quá trình thực hiện, tỷ lệ đô thị hóa của toàn tỉnh luôn tăng khá nhanh, là kết quả của quá trình phát triển kinh tế xã hội nói chung và cụ thể là dưới tác động của các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cũng như các dự án phát triển đô thị. Mặt khác, tỷ lệ đô thị hóa tăng cao cũng là kết quả của quá trình tích cực thúc đẩy đô thị hóa và công nhận loại đô thị tại các địa phương trong tỉnh. Các đô thị trong tỉnh đã được cải tạo, nâng cấp và phát triển theo hướng văn minh hiện đại, giàu bản sắc.

Đến nay, hệ thống đô thị toàn tỉnh được đầu tư cơ sở hạ tầng, không gian đô thị được mở rộng từng bước đáp ứng theo quy hoạch, phù hợp với tình hình phát triển của các địa phương trong tỉnh. Hiện tỉnh Khánh Hòa mới đạt 66,18 điểm trên thang điểm từ 75 – 100 điểm (đã đạt các tiêu chuẩn về hạ tầng xã hội khu vực nội thị; kiến trúc cảnh quan đô thị; trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan khu vực ngoại thành, ngoại thị), vẫn còn thiếu 8,82 điểm so với mức điểm tối thiểu (chưa đạt các tiêu chuẩn về hạ tầng giao thông, cấp điện và chiếu sáng công cộng, cấp nước, hệ thống thoát nước mưa và chống ngập úng, thu gom xử lý nước thải, chất thải, nhà tang lễ và cây xanh đô thị). Các đô thị trên địa bàn tỉnh, gồm:

01 đô thị loại I là thành phố Nha Trang (Quyết định 185/2009/QĐ-TTg ngày 22/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ);

01 đô thị loại III là thành phố Cam Ranh (Quyết định số 717/QĐ-BXD ngày 30/6/2009 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng);

03 đô thị loại IV: thị trấn Vạn Giã, huyện Vạn Ninh (Quyết định số 855/QĐ-BXD ngày 22/9/2010 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng); thị trấn Ninh Hòa trước đây, thị xã Ninh Hòa (Quyết định số 713/QĐ-BXD ngày 30/6/2009 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng); thị trấn Diên Khánh, huyện Diên Khánh (Quyết định số 854/QĐ-BXD ngày 22/9/2010 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng); đô thị Diên Khánh đạt tiêu chí đô thị loại IV (Quyết định số 220/QĐ-BXD ngày 02/3/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng);

15 đô thị loại V: xã Đại Lãnh, huyện Vạn Ninh (Quyết định số 3459/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 của UBND tỉnh); xã Ninh Sim, huyện Ninh Hòa trước đây (Quyết định số 2251/QĐ-UBND ngày 01/9/2010 của UBND tỉnh); xã Ninh Hà, huyện Ninh Hòa trước đây (Quyết định số 2252/QĐ-UBND ngày 01/9/2010 của UBND tỉnh); khu vực xã Ninh Thọ, thị xã Ninh Hòa (Quyết định số 2218/QĐ-UBND ngày 17/8/2015 của UBND tỉnh); khu vực xã Ninh An, thị xã Ninh Hòa (Quyết định số 2219/QĐ-UBND ngày 17/8/2015 của UBND tỉnh); xã Ninh Xuân, huyện Ninh Hòa (Quyết định số 216/QĐ-UBND ngày 21/01/2019 của UBND tỉnh); xã Vĩnh Thái, thành phố Nha Trang (Quyết định số 216/QĐ-UBND ngày 21/01/2019 của UBND tỉnh); xã Diên Phước, huyện Diên Khánh (Quyết định số 2220/QĐ-UBND ngày 17/8/2015 của UBND tỉnh); xã Suối Hiệp, huyện Diên Khánh (Quyết định số 3457/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 của UBND tỉnh); xã Diên Lạc, huyện Diên Khánh (Quyết định số 2221/QĐ-UBND ngày 17/8/2015 của UBND tỉnh); thị trấn Cam Đức, huyện Cam Lâm (Quyết định số 2167/QĐ-UBND ngày 31/7/2017 của UBND tỉnh); xã Suối Tân, huyện Cam Lâm (Quyết định số 3458/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 của UBND tỉnh); thị trấn Tô Hạp, huyện Khánh Sơn (Quyết định số 2222/QĐ-UBND ngày 17/8/2015 của UBND tỉnh); thị trấn Khánh Vĩnh, huyện Khánh Vĩnh (Quyết định số 2168/QĐ-UBND ngày 31/7/2017 của UBND tỉnh); thị trấn Trường Sa, huyện Trường Sa (Nghị định số 65/2007/NĐ-CP ngày 11/4/2007 của Chính phủ).

Đánh giá của Bộ Chính trị về việc thực hiện Kết luận số 53-KL/TW ngày 24/12/2012 của Bộ Chính trị khóa XI về xây dựng, phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030: Khánh Hòa đã khai thác và phát huy tương đối tốt các tiềm năng, lợi thế, nhất là lợi thế về biển cho phát triển kinh tế - xã hội. Kinh tế tăng trưởng khá, giai đoạn 2012 – 2019 đạt mức bình quân hơn 7,32%/năm. Năm 2019, quy mô nền kinh tế tăng 1,76 lần so với năm 2011; tổng sản phẩm bình quân đầu người đạt mức 70,07 triệu đồng, tăng 2,3 lần so với năm 2011; thu ngân sách tăng nhanh, bảo đảm tự cân đối ngân sách địa phương và có điều tiết về Trung ương.

Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là hạ tầng giao thông được chú trọng đầu tư, nâng cấp. Hệ thống đô thị ven biển được hình thành tương đối hiện đại. Khu kinh tế Vân Phong từng bước tác động tích cực đến phát triển kinh tế của tỉnh và vùng. Du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Khánh Hòa là trung tâm du lịch biển quốc gia, có thương hiệu quốc tế; từng bước trở thành một cực tăng trưởng trong khu vực. Bảo vệ môi trường, ứng phó với thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu đạt được nhiều kết quả tích cực. Phát triển kinh tế - xã hội được kết hợp chặt chẽ với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh; chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc được bảo vệ vững chắc.

Tuy nhiên, tiềm năng, lợi thế của tỉnh chưa được khai thác hợp lý, phát huy hiệu quả, chưa tạo sự đột phá cho phát triển. Khánh Hòa chưa đạt được các tiêu chí để trở thành đô thị trực thuộc Trung ương; chưa thực sự trở thành đô thị hạt nhân, động lực phát triển, cửa ngõ chính ra Biển Đông của khu vực duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

Từ đánh giá thực tiễn nêu trên, Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 28/01/2022 của Bộ Chính trị tiếp tục xác định: mục tiêu đến năm 2030 Khánh Hòa là thành phố trực thuộc Trung ương, là đô thị thông minh, bền vững, bản sắc và kết nối quốc tế; là trung tâm dịch vụ, du lịch biển quốc tế; là một cực tăng trưởng, trung tâm của khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và cả nước về kinh tế biển, công nghiệp công nghệ cao, khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, đào tạo nguồn nhân lực và chăm sóc sức khỏe chất lượng cao;… Tầm nhìn đến năm 2045 Khánh Hòa là đô thị thông minh, bền vững, bản sắc, ngang tầm khu vực Châu Á; là hình mẫu của sự gắn kết giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; là thành phố đáng sống, nơi nhân dân có mức sống cao, hiền hòa và hạnh phúc;…

Do đó, việc lập và tổ chức thực hiện Chương trình phát triển đô thị tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 để cụ thể hóa các chỉ tiêu phát triển đô thị, danh mục và lộ trình triển khai thực hiện quy hoạch, làm cơ sở để đầu tư phát triển đô thị, lập đề án và đánh giá nâng loại đô thị nhằm thực hiện mục tiêu đã được Bộ Chính trị đề ra và các Chương trình hành động của Tỉnh ủy là cần thiết.

Một số chỉ tiêu phát triển đô thị theo Chương trình hành động số 30-CTr/TU và Chương trình hành động số 37-CTr/TU:

Đến năm 2025, Số lượng đô thị tăng thêm 01 đô thị sân bay Cam Lâm (theo Chương trình hành động số 37-CTr/TU); Tỷ lệ đô thị hóa đạt 65%; Quy mô dân số đạt 1.276 nghìn người (khu vực nội thành đạt 638 nghìn người); Mật độ dân số khu vực nội thành tính trên diện tích đất xây dựng đô thị 11.000 người/km2; Diện tích sàn nhà ở đô thị bình quân đạt 26,5m2/người (theo Chương trình hành động số 37-CTr/TU là 28m2/người); Tỷ lệ đất giao thông so với đất xây dựng đô thị đạt 16% (theo Chương trình hành động số 37-CTr/TU là 20%); Tỷ lệ nước thải đô thị được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật đạt 40%; Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt 77,97% (trong đó khu vực nội thành đạt 85,5%).

Đến năm 2030, Số lượng đô thị tăng thêm 02 đô thị (đô thị sân bay Cam Lâm và đô thị công nghiệp Ninh Hòa - theo Chương trình hành động số 37-CTr/TU); Tỷ lệ đô thị hóa đạt 70%; Quy mô dân số đạt 1.314 nghìn người (khu vực nội thành đạt 723 nghìn người); Mật độ dân số khu vực nội thành tính trên diện tích đất xây dựng đô thị 12.000 người/km2; Diện tích sàn nhà ở đô thị bình quân đạt 28,4m2/người (theo Chương trình hành động số 37-CTr/TU là 32m2/người); Tỷ lệ đất giao thông so với đất xây dựng đô thị đạt 24% ; Tỷ lệ nước thải đô thị được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật đạt 50%; Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt 81,91% (trong đó khu vực nội thành đạt 87%).

Tầm nhìn đến năm 2045: Tỷ lệ đô thị hóa thuộc nhóm trung bình cao của cả nước. Hệ thống đô thị liên kết thành mạng lưới đồng bộ, thống nhất, cân đối, có khả năng chống chịu, thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ môi trường, kiến trúc tiêu biểu giàu bản sắc, xanh, hiện đại, thông minh (theo Chương trình hành động số 37-CTr/TU).

Thu Hà-TTCNTT

Nguồn: Quyết định số 3640/QĐ-UBND ngày 30/12/2022 của UBND tỉnh

 
Đầu trang
 
Trở về
 
In bài viết