Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường Khánh Hòa vừa có báo cáo kết quả quan trắc môi trường tỉnh Khánh Hòa 6 tháng cuối năm 2021. Báo cáo được dựa trên số liệu quan trắc môi trường không khí xung quanh và tiếng ồn, nước mặt, nước dưới đất, trầm tích và nước biển ven bờ trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.
Mục tiêu chính cung cấp các đánh giá về diễn biến chất lượng môi trường trên quy mô toàn tỉnh, phục vụ việc xây dựng báo cáo thông tin môi trường hàng năm; cung cấp các đánh giá về diễn biến chất lượng môi trường của từng vùng được quan trắc để phục vụ các yêu cầu tức thời của các cấp quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường; Cảnh báo kịp thời các diễn biến bất thường hay các nguy cơ ô nhiễm, suy thoái môi trường; Xây dựng cơ sở dữ liệu về chất lượng môi trường phục vụ việc lưu trữ, cung cấp và trao đổi thông tin.
Chất lượng môi trường không khí xung quanh
Chất lượng không khí tỉnh Khánh Hòa 6 tháng cuối năm 2021 tại các khu vực: Ngã Ba Ninh Hòa, Mã Vòng, Nút giao thông Ngọc Hội, LHP- Nguyễn Tất Thành và Cây Dầu Đôi, KDC gần CCN Trảng É kém hơn các khu vực còn lại với tần suất tiếng ồn và nồng độ bụi vượt quy chuẩn cho phép từ 17% - 33%. Nhìn chung, chất lượng không khí 6 tháng cuối năm 2021 tại các khu vực trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa có nhiều biến động do ảnh hưởng từ dịch bệnh, các hoạt động đi lại của người dân bị hạn chế nên chất lượng không khí được cải thiện đáng kể so với 6 tháng cuối năm 2020. Tuy nhiên một số khu vực bị ảnh hưởng bởi hoạt động giao thông cùng với công trình xây dựng làm nồng độ bụi tăng cao (Nút giao thông Ngọc Hội – tháng 10: 1.720 µg/m3). Do đó, cần được lưu ý để kiểm soát, giảm thiểu đến mức tối thiểu nồng độ bụi tại các khu vực này. Nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm môi trường không khí tại các khu vực là do hoạt động giao thông cao, các công trình xây dựng làm chất lượng mặt đường tại một số khu vực kém và hoạt động xây dựng công trình gần vị trí quan trắc. Tại 02 trạm quan trắc không khí tự động (Làng trẻ SOS và 14 Hoàng Hoa Thám): các thông số quan trắc đều đạt giới hạn cho phép QCVN 05-2013/BTNMT.
Chất lượng môi trường nước mặt
Tại các hồ chứa nước: Dựa vào chỉ số VN-WQI cho thấy, nguồn nước đạt mục đích sử dụng cho sinh hoạt chiếm tỷ lệ 100% tại các hồ (trừ hồ Hoa Sơn, Cam Ranh, Suối Trầu và Am Chúa – chỉ được 17% - 67%). Mặc dù, chất lượng nước tại phần lớn các hồ chứa đều khá tốt, không có tháng bị xếp loại ô nhiễm nặng, tuy nhiên tại khu vực Hồ Hoa Sơn có 3 tháng (7, 8, 9) chất lượng nước chỉ đạt mục đích tưới tiêu (tần suất chiếm 50%) do bị ảnh hưởng bởi giá trị pH, hồ Suối Trầu có tần suất đạt mức 1 thấp nhất (tần suất 17%), các tháng còn lại đều cần phải có biện pháp xử lý phù hợp.
Sông Cái Nha Trang: chất lượng nước 6 tháng cuối năm tại các trạm đạt mục đích cấp nước sinh hoạt với tỉ lệ 67 – 100%, trong đó Thanh Minh và Võ Cạnh chiếm tỉ lệ thấp nhất (67%). Cầu Sắt Nha Trang thường xuyên bị nhiễm mặn với hàm lượng clorua vượt quy chuẩn (tần suất 100%). Chất lượng nước tại các trạm trên sông Cái Nha Trang không có tháng bị xếp loại ô nhiễm nặng.
Sông Dinh Ninh Hòa: chất lượng nước đạt mục đích cấp nước sinh hoạt chiếm tần suất 83% ở tất cả các trạm, các tháng còn lại đạt mức 1 nhưng cần có biện pháp xử lý phù hợp.
Các sông khác: phần lớn các sông suối khác tại các khu vực quan trắc đều đạt mục đích cấp nước sinh hoạt (tần suất 83% - 100%), riêng sông Đá Bàn (tháng 10), sông Đồng Bò (tháng 7) đạt mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần có biện pháp xử lý phù hợp, sông Chò chỉ đạt mục đích tưới tiêu (tần suất 17% - tháng 11).
So với 6 tháng cuối năm 2020 (19 trạm theo quy hoạch cũ): Chất lượng nước tại các hồ chứa suy giảm tại hồ Hoa Sơn và Cam Ranh (tần suất đạt mục đích cấp nước sinh hoạt chỉ đạt 50% - giảm so với năm 2020 là 100%). Chất lượng nước tại các sông suối được cải thiện.
- Tại các kênh mương tiếp nhận nước thải: các kênh mương luôn bị ô nhiễm nặng với các giá trị quan trắc (chất hữu cơ, dinh dưỡng và vi sinh) tần suất vượt quy chuẩn ở mức cao. Riêng Mương NM dệt Nha Trang và Cống Số 4 – KCN Suối Dầu có chất lượng nước kém hơn 02 trạm còn lại. Coliform biến động không đáng kể tại cả 4 trạm.
So với 6 tháng cuối năm 2020: chất lượng nước các kênh mương tiếp nhận nước thải được cải thiện tại khu vực Mương NM dệt Nha Trang (tần suất các thông số hữu cơ (BOD5, COD) vượt quy chuẩn giảm (67% → 33%), photphat giảm (100% → 0%), cũng qua kết quả quan trắc cũng ghi nhận chất lượng nước tại Cống số 4 – KCN Suối Dầu kém hơn 3 trạm còn lại với nhiều thông số quan trắc vượt quy chuẩn và tần suất cao.
Chất lượng môi trường nước dưới đất: Khu vực KCN Ninh Thủy có chất lượng nước kém hơn các khu vực còn lại với nhiều thông số vượt chuẩn (độ cứng, clorua, florua, coliofrm và E.coli). Coliform và E.coli là yếu tố gây nhiễm bẩn phổ biến tại phần lớn các khu vực với tần số vượt quy chuẩn từ 50% – 100% (trừ Tuần Lễ, Dốc Lết, KCN Diên Phú, Phước Tuy, KCN Suối Dầu, Cam Hải Đông và Cam Hiệp Nam). Có 3/13 trạm đạt chuẩn với tất cả các thông số quan trắc là Khu vực Tuần Lễ, Phước Tuy và KCN Suối Dầu
Chất lượng nước biển ven bờ: Kết quả quan trắc nước biển ven bờ 6 tháng cuối năm 2021 nhận thấy: đạt quy chuẩn tất cả các trạm đối với các thông số: pH, amoni, photphat, kim loại nặng (Zn, Cu, Pb, Cd và As), dầu mỡ và coliform. Có 24 trạm đạt quy chuẩn với tất cả các thông số quan trắc (trừ Vạn Giã, Đỉnh Đầm Nha Phu, Ngọc Diêm và Bắc Đầm Thủy Triều). Chất lượng nước biển ven bờ tại các khu vực bị nhiễm bẩn TSS tập trung chủ yếu tại vùng nuôi trồng thủy sản tại các khu vực Ngọc Diêm và Bắc Đầm Thủy Triều. Các giá trị dinh dưỡng các nhiều biến động tại hầu hết các trạm (amoni và photphat biến động nhẹ, nhưng nitrit và nitrat tăng dần các thàng 9, 10, 12 nhưng giảm sâu trong tháng 11). So với 6 tháng cuối năm 2020, chất lượng nước biển ven bờ các khu vực biến động không đáng kể, một số khu vực còn được cải thiện nhất (Vũng Trầu Nằm, Cửa Sông Tắc, Cầu Đá hay Nhà máy đường Khánh Hòa).
Chất lượng trầm tích biển: So với quy chuẩn QCVN 43-2017/BTNMT (nước mặn, nước lợ), các thông số: THC và kim loại nặng (As, Cd, Pb, Zn, Hg, Cr, Cu) tại các trạm đều nằm dưới giới hạn cho phép. So với tháng 5/2021: các giá trị KLN và hữu cơ ít biến động, riêng khu vực Nhà máy đường Khánh Hòa có biến động về cấp độ hạt (độ hạt từ 4% - 1% gia tăng từ 1,8 đến 3 lần; trong khi độ hạt (1-0,5%) lại giảm sâu (48 lần)). Thành phần cấp độ hạt mịn 0,063, độ hạt (2-1) và (0,5-0,25) chiếm chủ yếu từ 23% - 37%.
Tuấn Vũ – TTCNTT
Nguồn: Công văn số 413/TTQT-QT ngày 28/12/2021